Công thức lấy mẫu của đề tài phân tích CFA, SEM trên AMOS


Mỗi phương pháp kiểm định định lượng thường sẽ yêu cầu một cỡ mẫu tối thiểu phù hợp để kiểm định đó cho ra kết quả ước lượng có ý nghĩa. Trong bài viết Công thức chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học chúng ta đã nắm được kích thước mẫu tối thiểu nếu một bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá. Bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu về kích thước mẫu tối thiểu nếu nghhiên cứu sử dụng phân tích nhân tố khẳng định CFA hoặc phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.

Công thức lấy mẫu của đề tài phân tích CFA, SEM trên AMOS

Trước tiên, chúng ta cần thống nhất với nhau về kiến thức chung đó là nếu một bài nghiên cứu sử dụng cùng lúc nhiều kiểm định định lượng và mỗi kiểm định này yêu cầu một cỡ mẫu tối thiểu khác nhau. Sau cùng chúng ta sẽ lấy cỡ mẫu tối thiểu của bài dựa vào kiểm định yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu cao nhất. Ví dụ: Bài nghiên cứu sử dụng Cronbach Alpha, EFA, CFA, SEM. Trong đó:

  • Cronbach Alpha yêu cầu mẫu tối thiểu là 100
  • EFA yêu cầu mẫu tối thiểu là 200
  • CFA yêu cầu mẫu tối thiểu là 250
  • SEM yêu cầu mẫu tối thiểu là 150
Chúng ta sẽ lấy mẫu tối thiểu cho bài nghiên cứu dựa theo CFA là 250.

1. Cỡ mẫu tối thiểu với phân tích CFA

Myers, Ahn, & Jin (2011) cho rằng cỡ mẫu tối thiểu cho phân tích nhân tố khẳng định CFA là 200. Bên cạnh đó, cỡ mẫu tối thiểu này nên được đối chiếu với số lượng biến quan sát đưa vào phân tích CFA hoặc số tham số của mô hình CFA. Cụ thể, nhóm tác giả này đề nghị công thức lấy mẫu tối thiểu như sau:

  • N ≥ 10*p: trong đó, N là cỡ mẫu, p là số lượng biến quan sát đưa vào phân tích CFA.
  • N ≥ 5*q: trong đó, N là cỡ mẫu, q là số lượng tham số của mô hình CFA.

Như vậy, với quan điểm của Myers, Ahn, & Jin (2011), nếu nghiên cứu của chúng ta sử dụng phân tích nhân tố khẳng định CFA, việc đầu tiên chúng ta sẽ áp dụng công thức tính cỡ mẫu tối thiểu theo một trong hai trường hợp ở trên (theo p hoặc q). Nếu cỡ mẫu tính được lớn hơn 200, chúng ta sẽ dùng cỡ mẫu đó. Ngược lại, nếu cỡ mẫu tính ra nhỏ hơn 200, chúng ta sẽ dùng cỡ mẫu tối thiểu là 200.

Về kinh nghiệm, việc xác định cỡ mẫu theo tham số của mô hình CFA sẽ hơi khó khăn với các bạn mới làm quen với CFA, làm quen với AMOS. Do vậy, các bạn nên ưu tiên sử dụng công thức lấy mẫu dựa vào số lượng biến quan sát đưa vào CFA.

Ví dụ: Chúng ta thực hiện phân tích CFA cho 3 cấu trúc biến tiềm ẩn là A, B, C gồm các biến quan sát tương ứng là (A1, A2, A3), (B1, B2, B3, B4) và (C1, C2, C3, C4, C5). Như vậy, tổng cộng có 12 biến quan sát (p=12) trong mô hình CFA này. Cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là: N = 10*12 = 120. Cỡ mẫu 120 này bé hơn 200. Do vậy, cỡ mẫu tối thiểu cho bài sẽ lấy là 200.

2. Cỡ mẫu tối thiểu với phân tích SEM

Đối với phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, theo Hair et al., Multivariate Data Analysis, 2010, 7th edition, p.574 thì cỡ mẫu phù hợp sẽ được xác định dựa trên các nhóm nhân tố. Cụ thể:

  • Cỡ mẫu tối thiểu là 100 - Số nhóm nhân tố từ 5 nhóm trở xuống, mỗi nhóm phải có hơn 3 biến quan sát với giá trị communalities khi phân tích EFA là từ 0.6 trở lên.
  • Cỡ mẫu tối thiểu là 150 - Số nhóm nhân tố từ 7 nhóm trở xuống, mỗi nhóm phải có hơn 3 biến quan sát với giá trị communalities khi phân tích EFA là từ 0.5 trở lên.
  • Cỡ mẫu tối thiểu là 300 - Số nhóm nhân tố từ 7 nhóm trở xuống, mỗi nhóm phải có hơn 3 biến quan sát với giá trị communalities khi phân tích EFA là từ 0.45 trở lên.
  • Cỡ mẫu tối thiểu là 500 - Số nhóm nhân tố lớn, mỗi nhóm phải có hơn 3 biến quan sát với giá trị communalities có thể thấp hơn một chút tầm 0.4.

Cỡ mẫu không đạt mức tối thiểu với số nhóm nhân tố sẽ gây ra vấn đề với các chỉ số phù hợp của mô hình như CFI, GFI, RMSEA... không đạt mức tiêu chuẩn.


Từ khóa: phần mềm amos, phần mềm amos full, cỡ mẫu trong SEM, cỡ mẫu trong CFA, chọn cỡ mẫu AMOS.